Trang chủ / TIN TỨC / Điện mặt trời mái nhà - Trách nhiệm của cơ quan quản lý và doanh nghiệp

Điện mặt trời mái nhà - Trách nhiệm của cơ quan quản lý và doanh nghiệp


Gần đây, có nhiều bài viết phân tích, cũng như ý kiến dư luận, người tiêu dùng về định hướng và dự thảo của Chính phủ, Bộ Công Thương về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời mái nhà. Để góp phần làm rõ hơn nội dung này, TS. Tô Văn Trường [*] có bài viết (thể hiện quan điểm riêng của mình) gửi tới Tạp chí Năng lượng Việt Nam dưới đây. Rất mong nhận được sự chia sẻ, thảo luận, phản biện của các chuyên gia, nhà quản lý và bạn đọc.

Bất cập:

Tại các bản dự thảo chính sách phát triển điện mặt trời mái nhà của Bộ Công Thương hướng tới quy định đối tượng được phép lắp đặt điện mặt trời mái nhà tập trung vào hộ gia đình, cá nhân và cơ sở hành chính công. Đặc điểm của các đối tượng này có quy mô diện tích mái lắp đặt nhỏ, phân tán, có đặc tính tiêu thụ điện không liên tục trong các thời điểm ban ngày và các ngày trong năm. Khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thương mại có quy mô diện tích mái để lắp đặt, công suất tiêu thụ điện của phụ tải lớn thì các dự thảo hiện chưa đưa vào đối tượng và phạm vi điều chỉnh của chính sách.

Bên cạnh đó, dự thảo đề xuất thủ tục hành chính để thực hiện triển khai tại các đơn vị còn nhiều dấu hỏi đặt ra trong thực tiễn triển khai. Dự thảo theo hướng đưa việc cấp phép lắp đặt điện mặt trời (ngoại trừ quy định đấu nối thuộc về trách nhiệm của EVN, địa phương) do các cơ quan hành chính địa phương cấp xã, phường và huyện cấp phép theo quy mô. Nhưng với trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ tại địa phương hiện nay và quy trình đồng nhất thủ tục cấp phép là thách thức rất lớn cho trong thực tiễn triển khai. Với quy định này, dường như việc triển khai điện mặt trời mái nhà sẽ được gói chặt, chứ không còn là khuyến khích phát triển.

“Đơn cử việc lắp đặt các tấm PV Module trên công trình xây dựng đòi hỏi công trình xây dựng phải có giấy phép xây dựng, hoặc được miễn giấy phép xây dựng. Tuy nhiên, với thực trạng quản lý đô thị và công trình xây dựng như hiện nay, các tỷ lệ công trình nhà ở riêng lẻ không có đủ hay được hoàn công không đúng theo giấy phép xây dựng là khá lớn”.

Việt Nam định hướng mạnh mẽ trong việc phát triển năng sạch với nhiều giải pháp đồng bộ được nêu ra nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và các cam kết giảm phát thải với cộng đồng quốc tế. Đi sâu vào phân tích, có hai mức độ cam kết về giảm phát thải chống biến đổi khí hậu trên bình diện quốc tế: Mức độ thứ nhất thuộc về cam kết quốc gia, mức độ kế tiếp theo đó là các doanh nghiệp chịu sự chi phối trong việc đóng góp và trách nhiệm giảm phát thải theo các hiệp định khung. Như vậy, không phải chỉ riêng Chính phủ hành động mà các doanh nghiệp cũng phải hành động để các hàng hóa, dịch vụ của mình đủ điều kiện tự do lưu thông trên thị trường quốc tế.

Hiệu quả:

Các ngành đồ gỗ, da giày, dệt may, nhuộm cùng nhiều cơ sở sản xuất khác trong nước sẽ bị áp dụng hạn mức giảm thải từ năm 2026 khi muốn xuất khẩu các sản phẩm của mình sang thị trường Liên minh châu Âu, Nhật, Mỹ và một số quốc gia khác. Và dường như điện mặt trời mái nhà là nguồn điện xanh, sạch có thể triển khai nhanh, thực sự hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp để đáp ứng các tiêu chí sản xuất xanh cho xuất khẩu.

Một hệ thống điện mặt trời mái nhà với công suất 1 MWp cần diện tích lắp đặt khoảng 5.000 m2, tại khu vực Nam Trung bộ và Nam bộ sẽ cho sản lượng điện khoảng 1.500.000 kWh/năm và theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA): 1 kWh điện mặt trời sẽ góp phần giảm tương đương 407gCO2. Với mức giá điện bình quân mua của EVN (giờ cao điểm và bình thường) trong ngày khoảng 2.100đ/kWh (chưa VAT), thì 1 năm doanh nghiệp tiết kiệm được tiền điện khoảng 80%*1.500.000*2.100đ = 2.520.000.000 VNĐ (chưa VAT) với giả định hiệu suất khai thác điện từ hệ thống là 80% (20% còn lại hệ thống điện mặt trời phát không tải tại các khung giờ nghỉ và ngày lễ, ngày nghỉ). 20% còn lại sẽ gây áp lực phát lên hệ thống lưới của EVN. Với suất đầu tư hiện tại khoảng 11 - 12 tỷ VNĐ/MWp, dễ dàng nhận thấy doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn đầu tư trong vòng 5 - 5,5 năm, tương đương với mức IRR (tỷ suất hoàn vốn) bình quân 20 - 25%.

Bằng phân tích tương tự, có thể dễ dàng tính toán hiệu quả đầu tư lắp đặt cho hộ gia đình và các cơ sở hành chính công. Với hiệu suất khai thác từ 60 - 70% công suất điện mặt trời, thì thời gian thu hồi vốn từ 5 -7 năm cho khu vực nhiều nắng và 10 - 12 năm cho khu vực miền Bắc.

Anh ninh năng lượng:

Dễ dàng nhận thấy hiệu quả kinh tế là đáng kể khi phát triển điện mặt trời “tự sản, tự tiêu” từ hộ gia đình, cơ sở hành chính và cơ sở sản xuất, kinh doanh. Nhưng khi phân tích ở góc độ xây dựng chiến lược phát triển năng lượng của một quốc gia, an ninh năng lượng là yếu tố quan trọng nhất trong “bộ ba năng lượng”. Đặc biệt là đối với Việt Nam, nền kinh tế đang phát triển cần duy trì sự ổn định cân bằng và an ninh năng lượng điện cho sản xuất, kinh doanh, an ninh quốc gia và phù hợp với điều kiện kinh tế.

Năng lượng thế giới dựa trên ba khía cạnh cốt lõi của bộ ba năng lượng: An ninh, công bằng năng lượng và tính bền vững của môi trường. Các quốc gia thực hiện các chính sách năng lượng nhằm đạt được sự cân bằng giữa bộ ba sẽ đem lại sự thịnh vượng và khả năng cạnh tranh về hiệu suất năng lượng của mỗi quốc gia.

Hậu tăng trưởng nóng năng lượng tái tạo trong những năm gần đây đã đặt ra nhận thức mới trong việc quy hoạch và phát triển năng lượng của Việt Nam. Mặc dù có tỷ lệ tăng trưởng năng lượng tái tạo vượt bậc trong thời gian ngắn (2019 - 2021) góp phần nâng cao tính bền vững môi trường của hệ thống năng lượng Việt Nam, nhưng an ninh năng lượng và công bằng năng lượng vẫn chưa thực sự được đảm bảo. Thiếu điện cục bộ vào tháng 6/2023 vừa qua, cùng như nguy cơ tiếp diễn chu kỳ các năm tiếp theo, áp lực tăng giá điện và sự minh bạch công bằng trong cơ cấu giá điện là những minh chứng cho việc đánh đổi của 2 mục tiêu còn lại trong bộ ba năng lượng.

Quy hoạch điện VIII đã đề ra định hướng và kế hoạch chuyển dịch năng lượng nhằm đạt mục tiêu Net-Zero vào năm 2050. Tuy nhiên, các thách thức trong việc chuyển dịch năng lượng đòi hỏi phải đặt các giải pháp vào khung bộ ba năng lượng nhằm đảm bảo các mục tiêu an toàn, công bằng và bền vững đã được đưa ra tại Nghị quyết số 55 của Bộ Chính trị.

Theo Hội đồng Năng lượng Thế giới (World Energy Council): Việt Nam được xếp hạng thứ 86 trên tổng số 127 quốc gia về chỉ số “bộ ba năng lượng”.

https://lh7-us.googleusercontent.com/Yfab4sVPuDC1AlF7-0pjYP2CRpeWbNkCjEsgo71mKZPLiA6lRGoz2g6lJYxZgchOnWtyT43-7fJ8BR2ra9WLjBKkdsx5mccBy_U-Z1IH1vnqLbm_gDIfVVlsqTMzyK3TxX2fDDYRzm9C5b6dALCaJg

Bảng xếp hạng cho thấy: Có khoảng cách rất lớn giữa Việt Nam và các nước dẫn đầu, điều đó phần nào phản ánh sức mạnh của các nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới. Thật khó có thể tìm ra một phương pháp công bằng để so sánh các chỉ số này giữa quốc gia đang phát triển và quốc gia phát triển.

Tại các quốc gia đang phát triển, trên con đường tiến tới sự ổn định, thịnh vượng chủ quyền của mình không thể không có sự đánh đổi giữa môi trường và phát triển sản xuất công nghiệp quy mô lớn. An ninh năng lượng là đầu vào thiết yếu cho toàn bộ nền sản xuất của mọi quốc gia. Tại Việt Nam, ngoài nhân công và tài nguyên hiện hữu hiện chúng ta đang phụ thuộc lớn vào chuyển giao công nghệ và tư bản tài chính cho chiến lược phát triển năng lượng. Sự lệ thuộc này đặt ra vấn đề hoạch định chiến lược đối với các quốc gia đang phát triển phải đặc biệt cân nhắc cho các thế hệ tương lai, tránh rơi vào tình trạng khủng hoảng kép “tài nguyên khai thác kiệt quệ, vấn nạn môi trường và các khoản nợ đến hạn khổng lồ”.

An ninh năng lượng tiếp tục là chỉ số ưu tiên phát triển trong bộ ba năng lượng của Việt Nam:

Theo quy hoạch điện VIII, mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đã được đề ra cụ thể đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội với mức tăng trưởng GDP bình quân 7%/năm cho giai đoạn 2021 - 2030, khoảng 6,5%-7,5%/năm cho giai đoạn 2031 - 2050. Một định nghĩa phổ biến về “an ninh năng lượng” là không phụ thuộc quá nhiều vào một nguồn năng lượng duy nhất và sản xuất càng nhiều năng lượng tại chỗ càng tốt. Đã nhiều năm Việt Nam lệ thuộc vào 2 nguồn năng lượng điện chính là thủy điện và nhiệt điện (chiếm đến 80% tổng công suất nguồn). Hai nguồn năng lượng này dễ bị tổn thương trong bối cảnh khủng hoảng nhiên liệu hóa thạch, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng và khó lường.

Đa dạng hóa nguồn năng lượng, chuyển dịch tỷ trọng năng lượng mới trên cơ sở lựa chọn danh mục phát triển từ nguồn năng lượng tương lai như: Điện gió, điện mặt trời, khí LNG, Hydro, Bio Energy… song song với duy trì và tối ưu hóa các nguồn phát điện hiện có thể xem như mục tiêu thứ nhất để hướng tới đảm bảo an ninh năng lượng. Mục tiêu thứ hai của quy hoạch là đảm bảo duy trì hoạt động ổn, định liên tục của các nguồn năng lượng quy mô lớn có ảnh hưởng trọng yếu đến năng lực cung ứng điện của quốc gia.

Trong phạm vi an ninh hạ tầng lưới điện (như nêu trên), một hệ thống điện mặt trời mái nhà quy mô công nghiệp nếu có mức phát dư thừa khoảng 20% sẽ gây áp lực lên lưới tương đương mức cao nhất khoảng 1.000 kWh và đồng thời trong một khu vực địa lý hẹp, nhiều hệ thống điện mặt trời cùng dư thừa, gâp áp lực lên lưới thì lưới điện sẽ vượt quá giới hạn và gây sự cố gián đoạn.

Giải pháp kỹ thuật có thể đáp ứng cho các tình huống dư thừa này. Tuy nhiên, bất cứ giải pháp nào đều có xác suất rủi ro nhất định và cần thời gian kiểm chứng, kiểm soát theo thực tiễn. Bên cạnh đó, EVN chưa phát triển được hệ thống lưới điện thông minh (Smart Grid) đủ mạnh để có thể đáp ứng được những nguồn điện có đặc thù biến thiên công suất và điện áp nhanh liên tục như điện gió, mặt trời.

Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển điện gió, mặt trời. Tuy nhiên, lại hoàn toàn phụ thuộc vào các nước phát triển về công nghệ và kinh nghiệm vận hành. Với nguồn lực kinh tế hữu hạn, cần phải phân bổ phù hợp cho các mục tiêu tăng trưởng và phát triển. Trong 3 năm qua, nguồn điện năng lượng tái tạo phát triển vượt bậc, trong khi đó hạ tầng lưới điện chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của lưới điện. Do vậy, việc tiếp tục bùng nổ điện mặt trời mái nhà và các nguồn điện thiếu ổn định vẫn nên phải cân nhắc cho phù hợp với thực tiễn.

https://lh7-us.googleusercontent.com/jB5eHYuro9hzAOttJHu3tmm_-7Seex_yNp7Hw9IAY-9ebJaRnzZ8hQVPepHcEQpUx2ag-NsF3kpL4s_LDDyNO2BJy5Gp2rkW-l4ezSsnjFL4RTlwX1NsGDqZz3fUkBqq_s_P-1AZPCLCJpszeyVJoQ

Nguồn: EVN, báo cáo phân tích KBSV.

Hiện nay, giá thành của năng lượng mặt trời thấp hơn nhiều so với năng lượng gió. Chi phí năng lượng quy dẫn của điện mặt trời (LCoE) đã giảm hơn khoảng bốn lần so với điện gió ngoài khơi trong thập kỷ qua. Công nghệ kỹ thuật số có thể làm giảm giá điện gió ngoài khơi bằng cách tạo ra các thiết kế hiệu quả hơn. Điều này rất quan trọng, vì nó cho phép gió ngoài khơi và năng lượng mặt trời bổ sung cho nhau trên lưới điện.

Bài học kinh nghiệm:

Trong bối cảnh dự báo sẽ xảy ra thiếu điện trầm trọng trong giai đoạn từ 2018 - 2025 và trên cơ sở các chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định 11/2017/QĐ-TTg; 13/2020/QĐ-TTg và 39/2018/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời, điện gió tại Việt Nam.

Với cơ chế khuyến khích thông qua giá FIT, các quyết định trên đã giúp huy động được nguồn lực lớn từ xã hội đầu tư vào các dự án điện gió, mặt trời kịp thời bổ sung một lượng công suất không nhỏ (gần 20.000 MW), cung cấp cho hệ thống điện trên 30 tỷ kWh điện hàng năm, mang lại lợi ích lớn cho nền kinh tế.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB): Với mức thiếu hụt điện năng trong thời gian tháng 5-6/2023 khoảng 500 - 600 triệu kWh đã làm thiệt hại cho nền kinh tế khoảng 1,4 tỷ USD. Với tính toán như vậy, nếu không có sản lượng điện hàng năm bổ sung từ nguồn năng lượng tái tạo hiện nay thì chắc chắn thiệt hại cho nền kinh tế do thiếu điện sẽ rất lớn.

Mặc dù vậy, qua giai đoạn phát triển nóng của điện gió, mặt trời thời gian vừa qua cũng cần rút ra các bài học cho giai đoạn phát triển ngành năng lượng sắp tới. Cụ thể là:

Thứ nhất: Cần phải nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch để có thể chủ động trong việc phát triển hệ thống điện, đảm bảo an ninh cung ứng điện.

Thứ hai: Cần phải xây dựng cơ chế cạnh tranh trong việc lựa chọn các nhà đầu tư phát triển để thực hiện các dự án trong quy hoạch, hạn chế tối đa cơ chế xin, cho.

Thứ ba: Nâng cao năng lực dự báo, đánh giá tác động chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước để có các điều chỉnh chính sách kịp thời hướng tới mục tiêu hài hòa lợi ích của các bên liên quan (nhà nước, người dân, doanh nghiệp), vì sự phát triển bền vững của đất nước.

Lời kết:

Muốn phát triển năng lượng đa dạng, an toàn cần phải có năng lực và công nghệ lưu trữ năng lượng tái tạo hiệu quả. Nhiều giải pháp lưu trữ năng lượng đang và đã được nghiên cứu và thương mại hóa. Các nghiên cứu này tạo ra các giải pháp lưu trữ để đáp ứng nhu cầu (bao gồm lưu trữ năng lượng không khí lỏng, lưu trữ năng lượng khí nén và các giải pháp thủy điện tích năng). Mặt khác, các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế cần phải chia sẻ và chung tay với Chính phủ để từng bước xây dựng phát triển hạ tầng năng lượng an toàn cho việc phát triển đa dạng các loại hình nguồn điện. Mục tiêu lợi ích quốc gia là mục tiêu ưu tiên và duy nhất để hướng tới./.

TS. TÔ VĂN TRƯỜNG


[*] TS. Tô Văn Trường là chuyên gia độc lập về tài nguyên và môi trường. Từ 1988 - 9/1996 là chuyên gia ở Ủy hội sông Mekong (MRC), Bangkok - Thái Lan. Từ 10/1996-1/2009 là Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam.



                                                                                ( nguồn : Năng lượng Việt Nam )